Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9

Bình giảng cảm nhận bài thơ Cảnh ngày xuân lớp 9

Hướng dẫn

Loading...

Trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã bao lần dụng công khắc họa những bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mang theo tâm trạng của con người. Cảnh nào cũng đẹp, cũng có hồn, cũng như một dự cảm về tương lai. "Cảnh ngày xuân" là một bức tranh như thế. Đoạn trích miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày xuân trong tiết Thanh minh tươi đẹp, trong sáng với lễ hội mùa xuân tưng bừng, náo nhiệt. 

Đoạn trích "Cảnh ngày xuân" nằm ở phần một "Gặp gỡ và đính ước", ngay sau đoạn tả tài sắc chị em Thúy Kiều là đến đoạn tả cảnh ngày xuân trong tiết thanh minh. Đoạn trích miêu tả bức tranh thiên nhiên ngày xuân trong tiết thanh minh tươi đẹp, trong sáng với lễ hội mùa xuân tưng bừng, náo nhiệt. Mạch cảm xúc men theo trình tự thời gian, không gian, theo bước chân của chị em Thúy Kiều trong buổi du xuân. Những câu thơ đầu tiên mở ra cảnh ngày xuân tươi đẹp:

  •  "Ngày xuân con én đưa thoi
  • Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi"

Hai câu thơ vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian. Giữa bầu trời bao la, mênh mông là những cánh én bay qua bay lại như đưa thoi. Hình ảnh ảnh "én đưa thoi" là một ẩn dụ nhân hóa rất gợi hình, gợi cảm: con én chao liệng trên bầu trời xuân rất nhanh như con thoi chạy đi chạy lại trên khung dệt gợi ra thời gian trôi rất nhanh cùng cảm giác bâng khuâng, tiếc nuối trong lòng người khi ngày vui không còn nhiều. Cảm giác tiếc nuối được thể hiện rõ nhất trong hình ảnh "Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi" – ánh sáng ấm áp của mùa xuân đã trở đi trở lại hơn sáu mươi ngày, tiết trời đã vào cuối xuân. Hai câu thơ tiếp là một bức họa tuyệt đẹp về cảnh ngày xuân:

  • "Cỏ non xanh tận chân trời 
  • Cành lê trắng điểm một vài bông hoa"

Ở đây thảm cỏ xanh non trải rộng tới chân trời là gam màu nền cho bức tranh xuân. Trên nền màu xanh non ấy điểm xuyết một vài bông lê màu trắng. Màu sắc có sự hài hòa đến mức tuyệt diệu: cỏ xanh, hoa trắng, hai gam màu dịu nhẹ làm tôn lên vẻ đẹp của nhau. Tất cả đều gợi lên vẻ đẹp riêng của mùa xuân: mới mẻ, tinh khôi, giàu sức sống, nhẹ nhàng mà thanh khiết. Chữ "điểm" làm cho cảnh vật trở nên sống động, bức tranh xuân trở nên có hồn mà không hề tĩnh tại.

Tám câu thơ tiếp theo là nét vẽ về cảnh lễ và hội trong tiết Thanh minh:

Loading...
  •  "Thanh minh trong tiết tháng ba 
  • Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh. 
  •  Gần xa nô nức yến anh,
  • Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân 
  •  Dập dìu tài tử giai nhân, 
  • Ngựa xe như nước, áo quần như nêm. 

Trong ngày Thanh minh có hai hoạt động diễn ra cùng một lúc là lễ tảo mộ và hội đạp thanh. Một loạt những từ hai âm tiết là danh từ, động từ, tính từ xuất hiện. Các danh từ "yến anh, chị em, tài tử, giai nhân" gợi lên sự đông vui, nhiều người cùng đến dự hội. Các động từ "sắm sửa, dập dìu" gợi lên sự tưng bừng, náo nhiệt của ngày hội. Các tính từ "gần xa, nô nức" làm rõ tâm trạng của những người đi hội. Cùng với các hình ảnh so sánh "ngựa xe như nước, áo quần như nêm" và cách nói ẩn dụ "nô nức yến anh" gợi lên sự đông vui, nhộn nhịp, ngựa xe trẩy hội như dòng nước, áo quần chen chúc như nêm, từng đoàn người đi chơi xuân như chim én, chim oanh ríu rít. Trong lễ hội mùa xuân, đông vui, tấp nập nhất là những nam thanh, nữ tú trong đó có chị em Thúy Kiều. Niềm vui từ tâm hồn họ hòa cùng niềm vui của mọi người lan tỏa rộn ràng như sóng cỏ mùa xuân. Qua cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, tác giả còn khắc họa một truyền thống văn hóa, lễ hội xa xưa của người Việt: 

  •  "Ngổn ngang gò đống kéo lên
  • Thoi vàng vó rắc, tro tiền giấy bay."

Trong tiết Thanh minh, mọi người sắm sửa lễ vật để đi tảo mộ, người ta rắc thoi vàng, đốt giấy tiền vàng mã để tưởng nhớ tới những người thân đã mất. 

Ngày tàn, hội tan, những câu thơ cuối đoạn trích gợi cảnh chị em Kiều du xuân trở về:

  • "Tà tà, bóng ngả về tây,
  • Chị em thơ thẩn dan tay ra về. 
  • Bước dần theo ngọn tiểu khê, 
  • Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh. 
  • Nao nao dòng nước uốn quanh, 
  •  Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang."

Cảnh vật vẫn mang cái thanh, cái dịu của mùa xuân: nắng đương nhạt, khe nước nhỏ, một nhịp cầu bắc ngang, mọi chuyển động đều nhẹ nhàng. Mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân con người thơ thẩn. Cái không khí rộn ràng, náo nhiệt của ngày hội không còn nữa mà tất cả đang nhạt dần, lặng dần. Những từ láy được sử dụng với mật độ dày: tà tà, thanh thanh, nao nao, nho nhỏ. Các từ láy không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người: hai chữ "nao nao" dễ nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Đó không chỉ là cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân sắp tàn mà còn là dự cảm về một điều sắp xảy ra. Dòng nước uốn quanh, nao nao như muốn báo trước ngay sau lúc này đây, Kiều sẽ gặp nấm mộ Đạm Tiên là hiện thân cho kiếp đoạn trường mười lăm năm lưu lạc. 

Đoạn trích "Cảnh ngày xuân" đã cho thấy nghệ thuật tả cảnh tài tình của Nguyễn Du. Cảnh được tả bằng sự kết hợp giữa bút pháp gợi tả và đặc tả có xa, có gần, có thấp, có cao, có điểm, có diện, có hình khối, có đường nét, màu sắc. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đạt đến độ sắc sảo, tinh tế của một ngòi bút có tầm Nguyễn Du, tả cảnh mà gợi được tâm trạng của Thúy Kiều.

Đoạn trích là bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng. Đoạn thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ với mùa xuân, tạo sức hấp dẫn trong lòng người đọc. 

Đánh giá bài viết